A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024

Năm 2023, kinh tế Việt Nam ghi nhận những tín hiệu phục hồi khá rõ nét, tiếp tục là điểm sáng trong khu vực và trên thế giới. Các tổ chức quốc tế và nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, với quyết tâm tháo gỡ khó khăn cùng các giải pháp hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ sẽ tiếp tục là những yếu tố tạo ảnh hưởng tích cực với tăng trưởng kinh tế trong năm 2024 và tạo đà cho bước tiến trong trung hạn.

Ảnh minh họa.

1. Nét lớn về kinh tế Việt Nam năm 2023

Trong bối cảnh đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nền kinh tế Việt Nam năm 2023 đạt mức tăng trưởng trên 5% với nhiều tín hiệu tích cực. Kinh tế tiếp tục xu hướng phục hồi, tháng sau tích cực hơn tháng trước, quý sau cao hơn quý trước, đạt nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực; đạt và vượt 10/15 chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Năm 2023, Việt Nam được ghi nhận là quốc gia đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát ở mức thấp, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát; tăng trưởng được thúc đẩy; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Nhiều tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá cao kết quả và triển vọng của nền kinh tế nước ta và dự báo Việt Nam sẽ phục hồi nhanh trong thời gian tới. Fitch Ratings đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+ (từ mức BB), với triển vọng “Ổn định”. Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam đạt 431 tỷ USD, tăng 1 bậc lên thứ 32/100 thương hiệu quốc gia mạnh trên thế giới.

Nét lớn của kinh tế Việt Nam năm 2023 bao gồm:

Thứ nhất, tăng trưởng GDP đạt mức 5,05% trong một năm nhiều khó khăn. Mặc dù mức tốc độ tăng trưởng GDP năm 2023 chỉ đạt 5,05%, không đạt được mục tiêu đề ra cũng như chỉ cao hơn tốc độ tăng 2,87% và 2,55% của các năm 2020 và 2021 trong giai đoạn 2011 - 2023 (khi nền kinh tế chịu tác động nặng nề của Đại dịch Covid-19), nhưng là nỗ lực rất lớn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu rất khó khăn, giúp nền kinh tế nước ta vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trên thế giới (tăng trưởng kinh tế thế giới dự báo chỉ khoảng 2,1 - 3%).

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2023 (%). Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Khu vực nông nghiệp tiếp tục là “trụ đỡ” của nền kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,83%, đóng góp 8,84% vào mức tăng GDP chung của toàn nền kinh tế. Trong đó, nhóm ngành nông nghiệp năm 2023 tăng 3,88% so với năm trước, đóng góp 0,34 điểm% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,74% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,02 điểm%; ngành thủy sản tăng 3,71%, đóng góp 0,1 điểm%. Đặc biệt trong một năm nhiều khó khăn, khu vực nông nghiệp đạt tăng trưởng ổn định và tích cực, hỗ trợ vững chắc của nền kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu một số nông sản tăng cao, chăn nuôi phát triển ổn định, ứng dụng mô hình công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản đã mang lại hiệu quả kinh tế.

Khu vực công nghiệp và xây dựng, trong đó đặc biệt là nhóm ngành ngành công nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh tổng cầu thế giới suy giảm. Tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp và xây dựng chỉ tăng 3,74%, đóng góp 28,87%, trong đó giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2023 chỉ tăng 3,02% so với năm trước, là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011 - 2023, đóng góp 1,0 điểm % vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,62%, là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011 - 2023, đóng góp 0,93 điểm %.

Khu vực dịch vụ phát triển tốt, trong đó các hoạt động thương mại, du lịch duy trì đà tăng trưởng cao. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2023 tăng 6,82% so với năm trước, cao hơn mức tăng 2,01% và 1,75% của các năm 2020 - 2021. Khách quốc tế đến Việt Nam đạt 12,6 triệu lượt người, gấp 3,4 lần năm 2022, vượt xa mục tiêu 8 triệu khách quốc tế của năm 2023; số lượt người Việt Nam xuất cảnh đạt 5 triệu lượt người, gấp 2 lần năm trước.

Thứ hai, vốn toàn xã hội cải thiện trong những tháng cuối năm, đầu tư nước ngoài đạt thành tích cao

Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 3,423.5 ngàn tỷ đồng, tăng 6.2% so với năm 2022, mức tăng này cải thiện hơn so với mức tăng 5.8% của 9 tháng đầu năm 2023, cho thấy hiệu quả việc chỉ đạo thực hiện thúc đẩy tiến độ các công trình, dự án đầu tư đạt kết quả khá quyết liệt trong những tháng cuối năm 2023.

Ngay từ đầu năm 2023, Việt Nam đã xác định đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Nhiều chỉ đạo quyết liệt và sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được thực hiện xuyên suốt cả năm 2023 nhằm tháo gỡ và đẩy nhanh công tác giải ngân vốn đầu tư công , phấn đấu đến hết năm có thể giải ngân ít nhất 95% tổng vốn đầu tư công năm 2023. Năm 2023, 9 dự án đường bộ thuộc cao tốc Bắc - Nam hoàn thành và đưa vào khai thác , nhiều dự án giao thông lớn được khởi công xây dựng, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc của cả nước lên 1.892km. Kết quả này góp phần hiện thực hóa một trong ba đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030.

Trong bối cảnh kinh tế và địa chính trị toàn cầu còn nhiều bất ổn, nhờ sự ổn định, cởi mở và hội nhập sâu rộng, Việt Nam vẫn được nhiều nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn là điểm đến hấp dẫn, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) đạt hơn 36,6 tỷ USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm trước. FDI thực hiện ước đạt 23,18 tỷ USD, tăng 3,5% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua, là điểm sáng của nền kinh tế đặc biệt trong điều kiện nguồn vốn đầu toàn cầu trong xu hướng giảm và cạnh tranh nguồn vốn FDI trong khu vực ngày một lớn. Vốn đăng ký mới tiếp tục tăng mạnh cho thấy Việt Nam vẫn là một điểm đến an toàn, hấp dẫn trong mắt giới đầu tư. Vốn giải ngân tăng cho thấy sự đồng hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương trong việc chủ động tiếp cận, nắm bắt, tháo gỡ những điểm nghẽn, rào cản pháp lý đang cản trở hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả, giúp doanh nghiệp ổn định và cải thiện sản xuất - kinh doanh và tiếp tục đầu tư.

Theo địa bàn, FDI năm 2023 tiếp tục tập trung nhiều tại các tỉnh, thành phố có nhiều lợi thế trong thu hút đầu tư nước ngoài (có cơ sở hạ tầng tốt, nguồn nhân lực ổn định, nỗ lực cải cách thủ tục hành chính và năng động trong công tác xúc tiến đầu tư…), như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hà Nội, Bắc Ninh, Nghệ An, Bình Dương, Đồng Nai. Riêng 10 địa phương này đã chiếm tới 78,6% số dự án mới và 74,4% số vốn của cả nước. Theo lĩnh vực, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 trên 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 23,5 tỷ USD, chiếm 64,2% tổng vốn đầu tư đăng ký và tăng 39,9% so với cùng kỳ. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư gần 4,67 tỷ USD, chiếm hơn 12,7% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 4,8% so với cùng kỳ. Các ngành sản xuất, phân phối điện; tài chính - ngân hàng xếp thứ 3 và 4 với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt hơn 2,37 tỷ USD (tăng 4,9%) và gần 1,56 tỷ USD (gấp gần 27 lần). Về đối tác, trong năm 2023, đã có 111 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 6,8 tỷ USD, chiếm 18,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, tăng 5,4% so với cùng kỳ 2022; Nhật Bản đứng thứ hai với gần 6,57 tỷ USD, chiếm hơn 17,9% tổng vốn đầu tư, tăng 37,3% so với cùng kỳ. Hồng Kông (Trung Quốc) đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 4,68 tỷ USD, chiếm gần 12,8% tổng vốn đầu tư, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ. Trung Quốc, Hàn Quốc,... đứng ở các vị trí tiếp theo.

Thứ ba, xuất nhập khẩu hàng hóa gặp khó khăn nhưng xuất siêu 28 tỷ USD, cao gấp hơn 2 lần năm 2022 .

Khó khăn từ nhu cầu thế giới suy giảm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 355,5 tỷ USD, giảm 4,4% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 95,55 tỷ USD, giảm 0,3%, chiếm 26,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 259,95 tỷ USD, giảm 5,8%, chiếm 73,1%. Trong năm 2023, có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 07 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 66%).

Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng trên 10 tỷ USD của Việt Nam năm 2023. Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2023, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 4,61 tỷ USD, chiếm 1,3%; nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 313,73 tỷ USD, chiếm 88,3%; nhóm hàng nông sản, lâm sản ước đạt 28,15 tỷ USD, chiếm 7,9%; nhóm hàng thủy sản ước đạt 9,01 tỷ USD, chiếm 2,5%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 327,5 tỷ USD, giảm 8,9% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 117,29 tỷ USD, giảm 7,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 210,21 tỷ USD, giảm 9,8%. Trong năm 2023 có 44 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 92,4% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 04 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 46,8%).

Giá trị nhập khẩu của một số mặt hàng trên 10 tỷ USD của Việt Nam năm 2023. Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm 2023, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước đạt 307,32 tỷ USD, chiếm 93,8%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 45,8%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 48%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng ước đạt 20,18 tỷ USD, chiếm 6,2%.

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2023, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 96,8 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 111,6 tỷ USD. Trong năm 2023, xuất siêu sang Hoa Kỳ ước đạt 83 tỷ USD, giảm 12,6% so với năm trước; xuất siêu sang EU ước đạt 29,1 tỷ USD, giảm 7,6%; xuất siêu sang Nhật Bản 1,6 tỷ USD, tăng 90,3%; nhập siêu từ Trung Quốc 49,9 tỷ USD, giảm 17,6%; nhập siêu từ Hàn Quốc 29,1 tỷ USD, giảm 23,3%; nhập siêu từ ASEAN 8,3 tỷ USD, giảm 37,2%.

Thứ tư, kinh tế vĩ mô ổn định, chỉ số giá tiêu dùng vượt mục tiêu đề ra

Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy giảm, Việt Nam vẫn duy trì ổn định vĩ mô khi đạt được mức tăng trưởng cao hơn nhiều mức tăng trưởng chung thế giới. Đà tăng trưởng tích cực, quý sau cao hơn quý trước . Hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, đầu tư đang trong chiều hướng cải thiện dần, đặc biệt trong những tháng cuối năm.

Trong bối cảnh giá cả thế giới biến động theo chiều hướng tăng, lạm phát nhiều quốc gia và nền kinh tế lớn ở mức cao, lạm phát của Việt Nam được khống chế ở mức thấp. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm 2023 tăng 3,25% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.

Khi tăng trưởng kinh tế thấp hơn dự kiến, cả năm 2023 ước đạt trên 5% thì ngành tài chính vẫn hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước đạt và vượt dự toán đề ra. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2023 ước đạt 1.717,8 nghìn tỷ đồng, bằng 106% dự toán năm và giảm 5,4% so với năm trước. Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2023 ước đạt 1.731,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,4% dự toán năm và tăng 10,9% so với năm trước.

Tình hình lao động việc làm có nhiều điểm tích cực, đời sống dân cư được cải thiện. GDP bình quân đầu người năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD, tăng 160 USD so với năm 2022. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 199,3 triệu đồng/lao động (tương đương 8.380 USD/lao động, tăng 274 USD so với năm 2022); Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2023 ước đạt 27%, cao hơn 0,6 điểm phần trăm so với năm 2022. Đời sống của hộ dân cư được cải thiện. Công tác an sinh xã hội được các cấp từ Trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện kịp thời, thiết thực.

Thứ năm, điều hành chính sách linh hoạt, kịp thời tháo gỡ khó khăn của nền kinh tế

Thành tựu kinh tế Việt Nam năm 2023 mang đậm dấu ấn của điều hành linh hoạt và phù hợp, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế trong giai đoạn phục hồi sau Đại dịch Covid-19 lại gặp phải các biến động trái chiều từ kinh tế thế giới. Chính sách tài chính tiền tệ được thực hiện chủ động, kịp thời giúp nền kinh tế tránh được những tác động tiêu cực, ổn định kinh tế vĩ mô. Các chính sách (bao gồm giãn, hoãn, giảm thuế, phí…) mà Chính phủ ban hành trong thời gian vừa qua nhằm hỗ trợ cho các thị trường, như thị trường vốn, đất đai, bất động sản, du lịch… khá phù hợp và có mang lại kết quả khả quan.

Năm 2023, khi loạt ngân hàng trung ương trên thế giới như Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thực hiện thắt chặt tiền tệ trong nỗ lực kéo lạm phát về mức mục tiêu , Việt Nam thực hiện chủ trương của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ về giảm mặt bằng lãi suất , hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận vốn, góp phần phục hồi sản xuất kinh doanh.

Nhiều chính sách tháo gỡ thị trường trái phiếu doanh nghiệp được ban hành. Nổi bật như Nghị định 08/2023/NĐ-CP (ngày 05/3/2023 sửa đổi, bổ sung các quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu), liên quan đến hoãn thực hiện một số quy định của Nghị định 65, cũng như cho phép doanh nghiệp và nhà đầu tư có các cơ chế đàm phán, giãn, hoãn và hoán đổi trái phiếu đã phát hành. Việc ban hành Nghị định 08 được đánh giá là kịp thời, giúp lấy lại niềm tin, từ đó tạo tín hiệu tín cực hơn cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Thông tư 03/2023/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được ban hành ngưng hiệu lực khoản 11, Điều 4, Thông tư số 16/2021/TT-NHNN, cho phép tổ chức tín dụng được mua lại trái phiếu doanh nghiệp, góp phần tháo gỡ nút thắt trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Thứ sáu, hệ thống đổi mới sáng tạo cải thiện, tạo cơ hội đưa Việt Nam trở thành trung tâm công nghệ

Năm 2023, chỉ số Đổi mới sáng tạo (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện, đứng hạng thứ 46/132 quốc gia, nền kinh tế trên toàn thế giới, tăng 2 bậc so với năm 2022. Như vậy, từ năm 2017 đến nay, chỉ số GII của Việt Nam liên tục được cải thiện . Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam là một trong 7 quốc gia thu nhập trung bình đạt được nhiều tiến bộ nhất về đổi mới sáng tạo trong thập kỷ qua; đồng thời là một trong 3 quốc gia giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 13 năm liên tiếp.

Cải thiện về thứ hạng trong đổi mới sáng tạo cũng như ứng dụng công nghệ số vào nền kinh tế sẽ là tiền đề quan trọng để Việt Nam thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với các dự án lớn, công nghệ tiên tiến giúp phát triển ngành công nghệ bán dẫn trong nước, mở ra cơ hội trở thành trung tâm công nghệ, tạo ra những động lực tăng trưởng bền vững cho tương lai.

2. Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2024

Vị thế của Việt Nam vẫn đang được đảm bảo và duy trì trong mắt giới đầu tư quốc tế. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tình hình chính trị ổn định, quan hệ ngoại giao với các nước lớn được nâng cấp và cải thiện . Cùng với đó, năm 2024 là năm nhiều cam kết thương mại có hiệu lực, trong đó có một số Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và lớn có hiệu lực tạo cơ hội cho Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong việc thu hút vốn FDI và mở rộng thị trường xuất khẩu trong năm 2024 và những năm tới. Đầu tư công, nhất là đầu tư cho hạ tầng dự báo sẽ vẫn là một trong những động lực quan trọng Việt Nam. Nhiều dự án đầu tư vào các hạ tầng kinh tế, nhất là hạ tầng giao thông được khởi công, đưa vào sử dụng; cùng với đó, trong năm 2024 sẽ có thêm các dự án hạ tầng giao thông lớn được khởi công, hoàn thiện. Điều này sẽ tạo nên sự động lực mới cho tăng trưởng kinh tế trong năm 2024 và các năm tiếp theo. Thu hút vốn FDI dự báo có thể tiếp tục được duy trì. Việt Nam vẫn là một trong những lựa chọn ưu tiên của dòng vốn FDI. Năm 2023, Việt Nam đang có những cải thiện về thứ hạng trong các bảng xếp hạng thế giới , khả năng cạnh tranh về chi phí của Việt Nam, lực lượng lao động có trình độ so với các quốc gia khác và việc tham gia các hiệp định thương mại tự do khu vực và toàn cầu là tín hiệu tốt cho dòng vốn FDI tiếp tục mạnh mẽ trong bối cảnh đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu. Chương trình hồi phục kinh tế cùng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, thị trường trong ban hành trong năm 2022 - 2023 có thể sẽ phát huy tác dụng trong năm 2024.

Tuy vậy, do tình hình thế giới còn bất định, thương mại thế giới giảm sút, cầu thế giới chưa hoàn toàn hồi phục, xuất nhập khẩu Việt Nam được đánh giá vẫn gặp nhiều khó khăn. Giá cả thế giới, đặc biệt các nguyên liệu đầu vào vẫn trong xu thế tăng, giá cả các mặt hàng Nhà nước quản lý trong nước trong lộ trình điều chỉnh. Cải cách tiền lương dự kiến vào tháng 7/2024 đều là những yếu tố nguy cơ gây lạm phát. Khu vực doanh nghiệp có xu hướng phục hồi nhưng còn rất khó khăn. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng dần theo các quý trong năm 2023, nhưng quy mô vốn giảm.

Trên cơ sở những phân tích thực trạng và dự báo bối cảnh và các động lực tăng trưởng kinh tế cho năm 2024 cho thấy, có nhiều cơ hội để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6 - 6,5% theo Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế năm 2024 đề ra, đặc biệt, so với nền tăng trưởng kinh tế ở mức chỉ trên 5% của năm 2023. Tuy vậy, với sự bất định của tình hình kinh tế thế giới, cũng như bất thường của thiên tai, dịch bệnh ngày một khốc liệt dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, đạt được mục tiêu tăng trưởng đề ra cần có sự chủ động và quyết liệt, tránh chủ quan trong điều hành, cũng như nỗ lực của toàn nền kinh tế ngay từ những tháng đầu năm năm 2024 nhằm tận dụng mọi thời cơ phát triển, đồng thời lường trước và giảm thiểu những phát sinh tiêu cực từ những biến động kinh tế thế giới. Điều này không những có thể giúp hoàn thành kế hoạch tăng trưởng kinh tế năm 2024 mà còn có thể giúp tạo đà vững chắc cho nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững trong trung và dài hạn.

Phó Thị Kim Chi và nhóm nghiên cứu

Ban Phân tích và Dự báo kinh tế, CIEM

(Bài đăng trên Bản tin Thông tin Báo cáo viên số tháng 01/2024)


Nguồn: Ban Tuyên giáo Trung ương
Thống kê truy cập
Hôm nay : 3.703
Hôm qua : 2.634
Tháng 06 : 55.303
Năm 2024 : 467.689