A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Bối cảnh quốc tế và trong nước - Những vấn đề đặt ra để đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới

CTTBTG - Với việc tận dụng những thời cơ, thuận lợi; hóa giải những nguy cơ, thách thức do bối cảnh quốc tế, trong nước tạo raViệt Nam không ngừng bồi đắp, xây dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng lớn mạnh, vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nhân dịp tham dự Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 79 và làm việc tại Hoa Kỳ, ngày 24-9-2024_Ảnh: TTXVN

Bối cảnh quốc tế

Định hình lại cục diện kinh tế - chính trị - an ninh thế giới.

Thế giới trải qua những thay đổi mang tính thời đại, môi trường kinh tế - chính trị - an ninh quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn.

Trật tự thế giới dịch chuyển nhanh theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc; các nước lớn vẫn hợp tác, thoả hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn; các nước tăng cường năng lực tự chủ chiến lược, cân bằng linh hoạt. Cạnh tranh đã trở thành một trạng thái mới trong quan hệ giữa các cường quốc trong bối cảnh hiện nay, phản ánh rõ nét trong quan hệ giữa Mỹ, đồng minh với Trung Quốc và Nga, đưa quan hệ quốc tế tới cục diện cạnh tranh chiến lược toàn diện và sâu sắc… Cùng với đó, các cường quốc khác, nhóm nước tầm trung, các nền kinh tế mới nổi đã có thời điểm tham gia tích cực và được kỳ vọng trở thành một “cực” quan trọng. Sự trỗi dậy của Nhóm nước Nam Bán cầu (Global South) với những nước đang phát triển tiêu biểu trong hệ thống kinh tế - chính trị - an ninh toàn cầu đang thúc đẩy quá trình định hình một trật tự thế giới mới đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc. Tuy nhiên, về trung hạn, những trung tâm mới nổi chưa thể bắt kịp và tạo thành một “cực” đồng đẳng với Mỹ dù đã đạt được sự phát triển nhất định. Do đó, thế giới đang trong giai đoạn quá độ, định hình trật tự theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc.

Xu hướng tự chủ chiến lược được các nước triển khai mạnh mẽ để giảm thiểu tác động bất lợi của cạnh tranh giữa các nước lớn. Các cường quốc tầm trung, các nước đang phát triển đề cao cách tiếp cận tăng cường tự chủ chiến lược; thay vì chọn phe trong cạnh tranh nước lớn, nhiều nước muốn duy trì cân bằng linh hoạt trong các khía cạnh khác nhau của trật tự quốc tế, tăng cường tiềm lực quốc gia để tận dụng cơ hội và ứng phó với các thách thức từ cạnh tranh giữa các nước lớn.

Toàn cầu hóa đang gặp trở ngại, làn sóng phản đối toàn cấu hóa, chủ nghĩa bảo hộ dâng cao; kinh tế thế giới gia tăng bất ổn và bị tác động lâu dài bởi đại dịch COVID-19 và căng thẳng địa - chính trị, các chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, điều chỉnh mạnh mẽ. Xu hướng chính trị hóa, an ninh hóa hợp tác từ thương mại, đầu tư đến khoa học - công nghệ nổi lên mạnh mẽ. Những biến động của tình hình thế giới, khu vực phần nào thể hiện mặt trái và là hệ quả của quá trình toàn cầu hóa đang gặp trở ngại, song toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục là xu hướng lớn, là động lực thúc đẩy sự phát triển và thịnh vượng của nhân loại. Các quốc gia, nhất là những nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) tạo ra thời cơ và thách thức lớn đối với mọi quốc gia.

CMCN 4.0 diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu tác động sâu rộng, toàn diện tới mọi mặt của đời sống xã hội, nền kinh tế - chính trị và văn minh nhân loại. Các sản phẩm mang tính đột phá (trí tuệ nhân tạo; internet vạn vật; công nghiệp bộ vi mạch xử lý; công nghệ chuỗi khối; mạng 5G; công nghệ sinh học…) đang tác động tới mọi khía cạnh an ninh - chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội...; đang định hình cuộc sống mới và cách mạng hóa cách loài người sống, làm việc, hưởng thụ...

CMCN 4.0 mở ra cơ hội để các quốc gia ứng phó với những thách thức về an ninh - chính trị; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn; giải quyết những vấn đề trong các lĩnh vực khoa học, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo dục, y tế...

Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đang trở thành phương thức tăng cường năng lực tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh quốc gia, duy trì ưu thế vượt trội; xây dựng lực lượng sản xuất mới, hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế quốc dân; đổi mới phương thức quản trị quốc gia, quản trị phát triển xã hội. Các công nghệ đột phá từ CMCN 4.0 tạo điều kiện để các quốc gia thay đổi phương thức sản xuất, tạo cơ hội để phát triển bứt phá, nhận diện và ứng phó, xử lý hiệu quả hơn với nhiều thách thức mang tính xuyên quốc gia và toàn cầu, như dịch bệnh, khủng bố, thiên tai,... đồng thời, thúc đẩy các hình thái mới, như kinh tế xanh, kinh tế số, phát triển bền vững.

CMCN 4.0 đã và đang tạo ra nhiều công nghệ mới, sản phẩm mới có những khả năng thuộc tính chưa từng có, làm thay đổi sâu sắc mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức và sinh hoạt của con người trên toàn cầu; làm hình thành và phát triển nền kinh tế thông minh, xã hội thông minh, quản lý nhà nước thông minh; đưa nhân loại vào thời kỳ phát triển mới.

CMCN 4.0 tạo ra cơ hội phát triển cho mọi quốc gia. Các nước đang phát triển có thể đi tắt đón đầu, đi ngay vào hiện đại ở những lĩnh vực có tiềm năng, tham gia vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu để rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi trước. Đồng thời, CMCN 4.0 cũng tạo ra nhiều khó khăn, thách thức lớn, nhất là đối với các nước đang phát triển, kém phát triển, khi làm cho nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động phổ thông giá rẻ ngày càng giảm mất lợi thế; trong khi đó, công nghệ, nhất là các công nghệ nguồn, công nghệ lõi tiên tiến, hiện đại do các nước phát triển nắm giữ trở thành nguồn lực quan trọng nhất, đem lại lợi thế cho các nước phát triển.

CMCN 4.0 đã và đang đặt ra hàng loạt thách thức phát triển mới, nhất là những vấn đề an ninh phát triển, an ninh phi truyền thống, như an ninh khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh kinh tế - tài chính - tiền tệ, an ninh con người, an ninh mạng… đối với các quốc gia, khu vực và toàn cầu. Đồng thời, khoa học và công nghệ đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn(1).

Ngày nay, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt giữa Mỹ và Trung Quốc, diễn ra quyết liệt trên mọi lĩnh vực, nhưng quyết liệt và quan trọng nhất là trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Các nước gia tăng đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (A.I) trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng (vũ khí hóa A.I), như chế tạo rô-bốt, tên lửa hành trình, tàu ngầm, máy bay không người lái,... Điều này có thể làm nảy sinh nguy cơ xảy ra cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ mới, vũ khí sinh học với những hình thái chiến tranh mới.

Cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra quyết liệt trên mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực khoa học - công nghệ (Trong ảnh: Một kỹ thuật viên kiểm tra chip tại một doanh nghiệp công nghệ ở Hợp Phì, tỉnh An Huy (Trung Quốc))_Nguồn: chinadaily.com.cn

Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế; nhiều vấn đề phát triển toàn cầu diễn ra gay gắt hơn.

Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là nguyện vọng chung của nhân dân tiến bộ trên thế giới, song đang đứng trước những trở ngại, thách thức mang tính thời đại. Các khu vực trên thế giới vẫn tồn tại nhiều điểm nóng, thậm chí đã bùng nổ thành xung đột, bao gồm: Cuộc xung đột Nga - Ukraine; xung đột ở khu vực Trung Đông (giữa Israel với Hamas, Houthi, Iran); gia tăng căng thẳng, nguy cơ đụng độ tại Eo biển Đài Loan, trên bán đảo Triều Tiên; tình hình bất ổn tại Myanmar... Các cuộc xung đột gia tăng về số lượng, cường độ, số bên can dự, mức độ thiệt hại và tính chất đa chiều(2).

Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn, thậm chí có nguy cơ bị vô hiệu hóa, “tê liệt” do chính trị cường quyền, bất đồng giữa các nước lớn, trong khi các nỗ lực cải tổ chưa đạt được kết quả mang tính đột phá. Trong khi đó, lại đang xuất hiện xu hướng tập hợp lực lượng thông quá các cơ chế đa phương mới trên thế giới do một số nước lớn dẫn dắt đang làm thay đổi cục diện thế giới, làm suy yếu những định chế đa phương vốn tồn tại từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đại diện bao trùm nhất là Liên hợp quốc.

Các vấn đề phát triển của nhân loại vẫn được chú trọng, song những thách thức cũng ngày càng gia tăng, gay gắt hơn trước. Dịch bệnh, thảm họa thiên nhiên, môi trường, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, an ninh không gian vũ trụ, an ninh con người, khủng hoảng nhập cư... tiếp tục diễn biến phức tạp, tác động mạnh đến môi trường an ninh phát triển của tất cả các quốc gia. Sự nổi lên gay gắt của những thách thức cũng thể hiện rõ mức độ, tính chất khó dự báo của các vấn đề an ninh phi truyền thống đã vượt khỏi tầm xử lý của bất kỳ quốc gia riêng lẻ nào và đang thách thức cả hệ thống quản trị toàn cầu.

Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu là những thách thức lớn đối với nhân loại trong những thập kỷ tới. Ngày nay, nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước công nghiệp phát triển đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo với quy mô ngày càng lớn, làm suy thoái, cạn kiệt nhiều loại tài nguyên thiên nhiên, tạo ra một lượng lớn chất thải đưa vào môi trường, khiến ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng và làm Trái Đất nóng lên, gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng, thiên tai, bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, sức khỏe và cuộc sống nhân loại.

Trong những thập niên tới, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững là nhiệm vụ, mục tiêu quan trọng hàng đầu của mọi quốc gia để thực hiện được các nhiệm vụ và 17 mục tiêu trong Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDG, New York, 2015); thực hiện Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu (COP21, Paris 12-2015) và mục tiêu “Phát thải ròng bằng 0” (Net Zero)(3)  tại COP27 (London, 2022) cũng như thực hiện các công ước của Liên hợp quốc có liên quan đến ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu (công ước về đa dạng sinh học, công ước về chống sa mạc hóa, công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu...) bằng nhiều biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững, thân thiện với môi trường và tập trung nguồn lực cho việc bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai, dịch bệnh xảy ra do tác động của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương tiếp tục phát triển năng động; là địa bàn cạnh tranh chiến lược, nơi hội tụ các sáng kiến, chiến lược của các nước lớntiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, trong đó Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động, có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, song là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, bất ổn; đang trở thành trọng điểm của sự hình thành, triển khai các cơ chế hợp tác đa phương, liên kết đa tầng nấc mới trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh nước lớn, các nước tầm trung quan trọng, như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Canada, Liên minh châu Âu,... cũng đưa ra tầm nhìn chiến lược hướng tới khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Đến nay, đã có ít nhất 11 tầm nhìn chiến lược khác nhau về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương được đề xuất(4). Hoà bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Căng thẳng tại eo biển Đài Loan, vấn đề Biển Đông, chương trình hạt nhân bán đảo Triều Tiên và chạy đua vũ trang tiếp tục là những vấn đề lớn, có nguy cơ trở thành điểm nóng.

ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trì hoà bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng; phải đối phó với những thách thức mới cả bên trong và bên ngoài. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương nói chung và ASEAN nói riêng chiếm vị trí địa chiến lược quan trọng trong chính sách các nước lớn. Tuy nhiên, các vấn đề chưa được giải quyết khiến ASEAN đứng trước nhiều khó khăn và thách thức trong việc thúc đẩy vai trò trung tâm và đoàn kết nội khối. Nội bộ các nước ASEAN còn nhiều mâu thuẫn và bất ổn, sự đoàn kết nội khối và tính thống nhất chưa cao. Vai trò trung tâm của ASEAN bị tác động bởi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Bên cạnh đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn có nguy cơ làm phân hóa ASEAN, làm ASEAN khó khăn hơn trong duy trì đồng thuận và quan điểm đối với những vấn đề an ninh, phát triển quan trọng của khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Vai trò trung tâm của ASEAN bị tác động bởi các xu hướng không thuận trên thế giới, như chủ nghĩa dân tộc, dân túy, xu hướng phản toàn cầu hóa..., đặt ra sức ép và yêu cầu cấp thiết cho ASEAN phải đổi mới, điều chỉnh phương thức hoạt động để giữ vững được vai trò. 

Bối cảnh trong nước

Đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và thời đại; thế và lực đất nước được nâng lên tầm cao mới.

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín đất nước được nâng lên tầm cao mới. Sau hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vững bước dưới là cờ vẻ vang của Đảng, dân tộc ta, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do, thống nhất giang sơn về một dải, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và đang đứng trước ngưỡng cửa bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; kỷ nguyên trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng, đưa đất nước Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, lập nên nhiều kỳ tích. Từ một đất nước chưa có tên trên bản đồ thế giới, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế. Từ một nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên lọt vào Top 40 nền kinh tế hàng đầu, có quy mô thương mại trong Top 20 quốc gia trên thế giới, mắt xích quan trọng trong 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới gắn kết với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu. Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với hơn 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn và là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, Việt Nam được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một câu chuyện thành công, một điển hình về xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Hai là, sau gần 40 năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã giải quyết tốt một số mối quan hệ lớn, khai thác và phát huy có hiệu quả sức mạnh nội sinh của nền văn hóa dân tộc, của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước được nâng lên, quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, uy tín quốc tế được nâng cao; mức độ hoàn thiện của các thể chế phát triển (chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội - con người, môi trường) được nâng lên và ngày càng đầy đủ, đồng bộ, hiện đại; việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm, nghị quyết của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và nền dân chủ XHCN đạt được những bước phát triển quan trọng, làm tiền đề phát triển nhanh, bền vững đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Việt Nam đã thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, có nền kinh tế năng động; kinh tế vĩ mô ổn định, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Đến nay, nền kinh tế nước ta đã cơ bản là một nền kinh tế thị trường hiện đại theo thông lệ quốc tế, đồng thời có những yếu tố bảo đảm định hướng XHCN. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh gắn với cơ cấu lại, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế tri thức. Nhờ kinh tế phát triển, các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng, chính trị - xã hội ổn định, an sinh xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện; dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng được tôn trọng; khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố. Một trong những thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam là xóa đói, giảm nghèo; là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều(5), bảo đảm mức sống tối thiểu và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.

Nền kinh tế nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm trong thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Tính chung từ 1986 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước đạt bình quân khoảng 6,5%/năm. Về quy mô GDP, năm 1986 đạt 818 tỷ đồng, sau gần 40 năm - năm 2023 đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng (430 tỷ USD) gấp 12.496 lần năm 1986; năm 2024 ước đạt 465 tỷ USD và năm 2025 có thể đạt 500 tỷ USD, nằm trong tốp 35 nền kinh tế lớn nhất thế giới(6). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, trở thành động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Đến năm 2023, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,12%, khu vực dịch vụ chiếm 42,54%, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 11,96% (so với năm 1986 tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm 17,9%; công nghiệp, xây dựng tăng 9,9%; dịch vụ tăng 12,6%). GDP bình quân đầu người ngày càng tăng. Năm 1986 GDP bình quân đầu người là 13,4 nghìn đồng, đến năm 2023 là 101,9 triệu đồng (4.316 USD) gấp hơn 7,6 nghìn lần, xếp thứ 5 trong khu vực ASEAN và thứ 125 trên thế giới…

Bốc, xếp hành hóa xuất khẩu tại cảng Hải Phòng_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Ba là, sức mạnh tổng hợp quốc gia được nâng lên, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân được xây dựng toàn diện, lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước được giữ vững, tăng cường; lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh về chính trị, tinh, gọn, mạnh; sức chiến đấu ngày càng cao, từng bước tiến lên hiện đại, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được gắn kết chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong từng ngành, địa bàn và cả nước.

Bốn là, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng để tạo môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống tiếp tục được củng cố, phát triển và mở rộng; hội nhập sâu rộng vào các tổ chức, định chế, hiệp định kinh tế, thương mại và thu hút được dòng vốn đầu tư lớn từ các nước phát triển(7).

Việt Nam ngày nay ngày càng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện; hội nhập kinh tế quốc tế đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế đa phương, khu vực.

Đồng thời, nước ta đã chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu hút đầu tư, tham gia vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu để phát triển kinh tế đất nước; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh phụ thuộc vào một thị trường nước ngoài, có quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 100 nước và lãnh thổ... Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện thông qua việc chủ động, tích cực hình thành mạng lưới đa tầng nấc các đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện(8) và tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới(9)Việc tham gia ngày càng nhiều FTA không chỉ cho thấy quyết tâm hội nhập sâu rộng mà còn tạo ra những cơ hội lớn cho Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng cường xuất khẩu, thu hút FDI, thúc đẩy tăng trưởng GDP, đổi mới sáng tạo và hoàn thiện thể chế.

Những hạn chế, khó khăn, thách thức cần phải tập trung giải quyết.

Một là, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Thực tế cho thấy, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN còn nhiều vướng mắc, bất cập chưa được tháo gỡ. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tình hình mới. Dân chủ XHCN chưa được phát huy đầy đủ, quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm, vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ luật, kỷ cương(10). Những hạn chế, yếu kém về thể chế là một trong những “điểm nghẽn” lớn cản trở sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, cần được tháo gỡ nhanh chóng, hiệu quả. Sự chậm trễ trong đổi mới hệ thống thể chế và cơ chế gây ra một lực cản lớn cho phát triển, bỏ lỡ thời cơ phát triển.  

Hai là, về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Quá trình đổi mới nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chậm, ít đột phá, nhất là nhận thức về bản chất và nguyên tắc vận hành của kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm định hướng XHCN; việc giải quyết mối quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội còn lúng túng; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chậm được hoàn thiện, còn nhiều mặt chưa đồng bộ, còn nhiều vướng mắc, “điểm nghẽn” chưa được tháo gỡ, làm lỡ nhiều cơ hội phát triển. Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển; cơ chế huy động, phân phối, sử dụng các nguồn lực của đất nước còn nhiều bất hợp lý, hiệu quả chưa cao, còn thất thoát và lãng phí lớn.

Nền kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thiếu bền vững; vẫn đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn, tốc độ tăng trưởng bình quân giảm dần qua các năm, phát triển thiếu bền vững(11); năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, trình độ khoa học - công nghệ và nhân lực chất lượng cao còn thiếu. Nền kinh tế Việt Nam còn ở khoảng cách khá xa so với các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới trong nhiều lĩnh vực(12). Nếu chỉ tăng trưởng trung bình 5 - 6%/năm, Việt Nam sẽ mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình”. Trong khi 20 năm qua, kinh tế Việt Nam chỉ tăng trưởng trung bình 5,7%/năm. Nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước phát triển trong khu vực đang hiện hữu. Sức chống chịu và năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế còn yếu trước những biến động từ bên ngoài, trên thị trường quốc tế, từ các cú sốc, các cuộc khủng hoảng trong khu vực và trên thế giới.

Ba là, về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN chưa được luận giải đầy đủ, thuyết phục, như mô hình tổng thể hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương, phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực, cải cách tư pháp... Tổ chức bộ máy cơ quan của Đảng, Nhà nước và trong hệ thống chính trị các cấp còn cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ một số cơ quan chưa rõ, chồng chéo; phân cấp, phân quyền giữa cấp trên và cấp dưới, Trung ương và địa phương chưa hợp lý. Đội ngũ cán bộ, công chức đông nhưng không mạnh, nhiều cán bộ năng lực hạn chế, bố trí chưa hợp lý, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, một bộ phận không nhỏ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, kể cả cán bộ cấp cao.

Hệ thống thể chế, pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực thiếu hệ thống, chất lượng thấp, chồng chéo, mâu thuẫn, thường xuyên phải điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện. Cải cách hành chính kết quả đạt được chưa cao, nhiều thủ tục hành chính không phù hợp, gây khó khăn, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Việc tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát thiếu quyết liệt, chặt chẽ, thậm chí bị buông lỏng, dẫn đến hạn chế về kết quả, tình trạng lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực còn diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đến chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước.

Bốn là, nhận thức lý luận về bản chất của dân chủ và xây dựng nền dân chủ XHCN chưa đầy đủ và thiếu hệ thống, chưa lý giải và làm sáng tỏ nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra; thực tiễn phát huy dân chủ XHCN chưa đạt được kết quả có giá trị định hướng, mang tính đột phá cho quá trình đổi mới; chưa coi trọng đúng mức các hình thức dân chủ trực tiếp; chưa thực sự phát huy sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước với tư cách là người giám sát, phản biện xã hội; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ ở nhiều cơ quan, tổ chức còn hình thức, nhiều chủ trương về phát huy dân chủ, thực hiện quyền làm chủ, quyền phản biện, giám sát của nhân dân, các cơ quan chịu trách nhiệm trước nhân dân về hoạt động chưa được cụ thể hóa thành các quy chế, quy định cụ thể để thực hiện; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi còn bị xâm phạm. Chưa bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng (công bằng) những thành quả đổi mới, phát triển.

Năm là, về bảo đảm tính độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường dân tộc trong kỷ nguyên mới. Những yếu tố bên trong, bên ngoài không thuận nêu trên cùng với yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện, thực chất đang đặt ra nhiều vấn đề về bảo đảm tính độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Việt Nam. Trước hết là bảo đảm sự độc lập, tự chủ về đường lối phát triển đất nước. Độc lập, tự chủ ở đây không phải là biệt lập, khép kín, mà phải tìm ra con đường, đường lối phát triển đất nước phù hợp với quy luật phát triển chung của nhân loại và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Độc lập, tự chủ là không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi, giáo điều, tránh lối cũ, đường mòn và tự mình phải luôn tìm tòi, suy nghĩ; tự mình làm chủ suy nghĩ, làm chủ bản thân và công việc của mình, tự mình thấy trách nhiệm trước đất nước và dân tộc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng đến nay, Đảng luôn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ. Đây là một yếu tố xuyên suốt, quyết định thắng lợi trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sự phát triển của cuộc CMCN 4.0 đang đặt ra những vấn đề mới đối với mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Những yêu cầu mới, vấn đề mới, thách thức mới xuất hiện ngày càng tác động mạnh, đa chiều đến việc lựa chọn phương thức phát triển của nước ta. Môi trường kinh tế - chính trị - an ninh quốc tế ngày càng phức tạp, biến động bất thường, khó dự báo đòi hỏi phải nâng cao năng lực tự chủ, tự lực, tự cường của đất nước, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân, nhất là trước tác động của những cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính, đứt gãy chuỗi cung ứng, các cú sốc bất ngờ, tình trạng khẩn cấp (như đại dịch COVID-19, xung đột Nga - Ukraine). Về quốc phòng - an ninh: (i) Chủ quyền quốc gia và vấn đề Biển Đông còn nhiều thách thức, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. (ii) Việt Nam đứng trước thách thức “chọn bên” và nguy cơ “mắc kẹt” trong cạnh tranh chiến lược nước lớn. (iii) Những nguy cơ, thách thức mới, nhất là những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, tác động trực tiếp tới môi trường phát triển của đất nước; (iv) “Diễn biến hòa bình” và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ngày càng gia tăng với những thủ đoạn mới, tinh vi, thâm độc hơn.

Trong khi đó, đánh giá tổng thể, sức mạnh tổng hợp quốc gia chưa được phát huy hiệu quả, nền kinh tế tăng trưởng chưa thực sự bền vững, năng suất lao động, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn thấp, nguy cơ tụt hậu xa hơn và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” còn hiện hữu; doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự lớn mạnh, năng lực vốn và công nghệ còn thiếu hụt; nền kinh tế còn lệ thuộc vào một vài thị trường, đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo bảo đảm cho năng lực tự lực, tự cường vẫn còn lạc hậu. Trong khi bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và các thế lực thù địch thay đổi chiến lược và phương thức chống phá khác nhau để can thiệp vào nội bộ nước ta… càng đòi hỏi phải đẩy mạnh các phương thức đấu tranh phi vũ trang, nhất là đấu tranh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá để tăng cường tính tự lực, tự cường, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. 

Những hiệp định tự do (FTA) thế hệ mới với tính gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa thị trường trong nước với thị trường thế giới, giữa quản trị quốc gia với quản trị toàn cầu cũng đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những đối tác trong các FTA thế hệ mới còn yêu cầu cam kết cả những nội dung phi truyền thống, phi thương mại, như mua sắm chính phủ, lao động, môi trường, dịch vụ thương mại điện tử, trực tuyến, doanh nghiệp nhà nước… Đây đều là những lĩnh vực mới và khó đối với Việt Nam. Các FTA thế hệ mới chính là những hiệp định “WTO cộng”. Nhìn chung, sau một thời gian thực thi các FTA thế hệ mới, bên cạnh những kết quả tích cực, các điều khoản của FTA được đánh giá tạo ra nhiều khó khăn, sức ép mới cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau; đặt ra những quy định và yêu cầu khắt khe đối với các bên tham gia nhằm nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và thúc đẩy các nguyên tắc cơ bản của phát triển bền vững, trong đó, đáng chú ý là vấn đề về lao động, bảo vệ môi trường, sở hữu trí tuệ... Lợi ích khai thác, tận dụng được từ các hiệp định này còn hạn chế. 

Những nhân tố thuận và không thuận tác động đến nước ta khi bước vào kỷ nguyên mới

Những nhân tố thuận, không thuận từ bên ngoài

Cục diện thế giới sẽ tiếp tục được đẩy nhanh hơn theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc; hòa bình, hợp tác, phát triển tiếp tục là xu thế lớn. Các nước lớn dù cạnh tranh quyết liệt nhưng vẫn tránh xung đột trực diện và vẫn có nhu cầu duy trì hòa bình, ổn định ở toàn cầu và khu vực.

Với vị thế địa chiến lược và quan hệ đối ngoại rộng mở, Việt Nam có nhiều dư địa để thúc đẩy hợp tác, đa dạng hóa, đan xen lợi ích với các nước trong khu vực và trên thế giới. Các nước lớn và khu vực phát triển đều coi trọng và mong muốn tăng cường hợp tác các mặt với nước ta. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tăng cường hợp tác thực chất với các nước lớn, các đối tác quan trọng, đồng thời có được thế chiến lược tốt hơn, vai trò ngày càng quan trọng hơn trong chính sách toàn cầu và khu vực của các nước lớn.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tiếp tục là đầu tàu phát triển năng động, là thị trường thương mại và địa điểm đầu tư hấp dẫn, tâm điểm của các liên kết kinh tế mới và động lực của tăng trưởng kinh tế thế giới. Sự phát triển năng động của khu vực mở ra cơ hội hợp tác, liên kết giữa các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

Sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là CMCN 4.0, các xu hướng phát triển mới, như tăng trưởng xanh, tài chính xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, trí tuệ nhân tạo... mở ra những cơ hội mới để ta rút ngắn khoảng cách phát triển với thế giới. Liên kết kinh tế quốc tế tiếp tục được thúc đẩy, quá trình hình thành các chuỗi cung ứng mới, chuỗi sản xuất mới là cơ hội để Việt Nam cải thiện được vị trí trong chuỗi cung ứng, sản xuất khu vực và toàn cầu. Việc Việt Nam nâng cấp, nâng tầm quan hệ với nhiều đối tác chủ chốt là dư địa lớn để mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút FDI và ODA chất lượng cao, thúc đẩy đột phá chiến lược (về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực).

Chủ nghĩa xã hội hiện thực có những bước phát triển mới trên thế giới. Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu vĩ đại trong quá trình xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và theo nhiều dự báo sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong vòng 10 năm tới.

Tuy nhiên, môi trường quốc tế và khu vực biến động mạnh hơn, tác động lớn đến an ninh và phát triển của nước ta. Đặc điểm của môi trường thế giới hiện nay và nhiều năm tới là tính bất định, khó lường tăng lên; bất ổn, biến động, khủng hoảng, xung đột cục bộ có thể sẽ diễn ra thường xuyên hơn.

Việc hoạch định chiến lược, chính sách phát triển khó khăn hơn đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Cạnh tranh chiến lược nước lớn sẽ là mặt chủ đạo trong quan hệ quốc tế, không loại trừ khả năng các nước lớn tìm cách dàn xếp, thỏa hiệp về một số vấn đề khu vực. Xu hướng chính trị cường quyền, tư duy sức mạnh cứng, can thiệp áp đặt, sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực, hành xử đơn phương, vi phạm luật pháp quốc tế có thể gia tăng. Việc ứng xử, cân bằng với các nước lớn sẽ gặp khó khăn hơn, đặt ra yêu cầu cao hơn về bản lĩnh, sự tỉnh táo, khéo léo của các nước.

Các thách thức an ninh vẫn sẽ thường trực, thậm chí có mặt phức tạp hơn trước. Các vấn đề an ninh phi truyền thống sẽ nổi lên gay gắt, nhất là dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh con người, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, an ninh tài chính... Nền kinh tế - chính trị thế giới khó đoán định, tiềm ẩn nhiều rủi ro, có khả năng rơi vào “thập kỷ bất ổn và mất mát”. “Diễn biến hòa bình” vẫn hiện hữu; hợp tác và liên kết kinh tế bị “chính trị hóa”, “an ninh hóa” cao độ, như trong các lĩnh vực trọng yếu, nhất là công nghệ chiến lược, công nghệ cao.

Nguy cơ lớn về tụt hậu sâu hơn và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” nếu không tận dụng tốt CMCN 4.0. Nếu không quyết liệt đổi mới tư duy, mô hình phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường năng lực khoa học - công nghệ, sẽ bỏ lỡ thời cơ của CMCN 4.0, thậm chí có nguy cơ rơi vào trì trệ, tụt hậu ngày càng xa. 

Những nhân tố thuận, không thuận từ bên trong

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị được củng cố, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ, đạt được nhiều kết quả tích cực; trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, mức độ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN được nâng lên; các yếu tố về văn hóa - lịch sử phát huy mạnh mẽ hơn; năng lực của Nhà nước trong điều tiết, quản lý kinh tế thị trường, quản trị quốc gia, quản lý xã hội được tăng cường; niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực làm chủ của người dân được phát huy.

Qua 40 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước ta thế và lực mới. Sự ổn định chính trị - xã hội tiếp tục duy trì; môi trường khởi nghiệp, đầu tư, kinh doanh cải thiện; khả năng thích ứng của nền kinh tế được nâng cao. Đây là những điều kiện quan trọng, có tính quyết định đối với việc duy trì lợi thế, tính hấp dẫn của thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế.

Đường lối đổi mới đúng đắn, khoa học cùng sự lãnh đạo, quản lý hiệu quả của Đảng và Nhà nước. Sự thống nhất trong cả hệ thống chính trị và sự vào cuộc của toàn xã hội trong triển khai các mục tiêu phát triển đất nước đến 2030, 2045, triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực.

Chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ đối ngoại ở Trung ương và địa phương được cải thiện, được đào tạo bài bản, có điều kiện để nâng cao công tác chuyên môn và bản lĩnh chính trị.

Tuy nhiên, kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng tiềm năng, nguồn lực được huy động; kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu giảm sút. Mô hình tăng trưởng chậm đổi mới, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chậm được cải thiện. Phát triển còn thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.

Bốn nguy cơ mà Đảng ta nêu ra vẫn tồn tại, thậm chí có mặt còn diễn biến phức tạp và tinh vi hơn. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực diễn biến phức tạp; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục chống phá, thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta ngày càng thâm độc, tinh vi, nhất là trên không gian mạng.

Tình hình một số khu vực, vùng biên giới, vùng biển, không gian mạng, công tác bảo đảm an ninh - trật tự xã hội có những yếu tố đáng lo ngại. Các vấn đề quản trị xã hội (già hóa dân số, các trào lưu trên phương tiện truyền thông xã hội...) ngày càng có nhiều tác động đối với an ninh, phát triển của đất nước.

*

Cùng với những thời cơ, thuận lợi cơ bản, Việt Nam phải chủ động xây dựng tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế để tận dụng tốt những cơ hội từ quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đồng thời phải tạo lập được sức mạnh tổng hợp quốc gia, sự độc lập tự chủ, năng lực tự chủ chiến lược, năng lực chống chịu của quốc gia trước những thách thức toàn cầu, khu vực và những biến cố bất thường từ bên ngoài; nhất là tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản trị phát triển tốt) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng lực lượng sản xuất mới, tiên tiến, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp trong quá trình bước vào kỷ nguyên phát triển mới. 

Sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, “sánh vai với các cường quốc năm châu”, “góp phần xứng đáng vào cách mạng thế giới” như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của cả dân tộc và nhân dân Việt Nam. Để đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, Đảng phải tự đổi mới chính mình, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện để lãnh đạo đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam XHCN hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.

--------------------------

(*) Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN - Nhà nước pháp quyền XHCN và Nền dân chủ XHCN trong hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam”, mã số KX.04.04/21-25, do TS. Bùi Trường Giang làm Chủ nhiệm, Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì.

(1) Để có thể giành được vị trí dẫn đầu trong cuộc chiến công nghệ, các bên không chỉ cố gắng đưa ra các chiến lược, chính sách thúc đẩy khoa học - công nghệ, tăng cường đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, mà còn dùng mọi biện pháp để kiềm chế sự vươn lên của đối phương.
(2) Ngoài chiến trường truyền thống còn diễn biến trên không gian mạng, thông tin, công nghệ...
(3) Net Zero hay “Phát thải ròng bằng 0”, là một mục tiêu môi trường nhằm giảm lượng phát thải khí nhà kính (như CO2, CH4, N2O) do con người gây ra xuống mức cân bằng với khả năng hấp thụ hoặc loại bỏ khí thải của Trái Đất, đến mức mà tổng lượng khí thải ròng được giảm xuống bằng không.
(4) Tiêu biểu là: Trung Quốc khởi xướng các sáng kiến toàn cầu, như Sáng kiến Phát triển Toàn cầu (GDI), Sáng kiến Văn minh Toàn cầu (GCI), Sáng kiến An ninh Toàn cầu (GSI), đề xuất các khuôn khổ hợp tác mới trong các sáng kiến “Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại” và các dự án Vành đai, Con đường (BRI) chất lượng cao. Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và nhiều quốc gia, như Ấn Độ, Canada, Australia triển khai các sáng kiến, chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, trong đó Mỹ thúc đẩy Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF), Đối tác về hạ tầng và đầu tư toàn cầu (PGII) và nhiều cơ chế hợp tác chuyên ngành khác. Nga tiếp tục thúc đẩy sáng kiến Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU). Nhật Bản thúc đẩy sáng kiến Cộng đồng châu Á phát thải ròng bằng “0”. Ấn Độ thúc đẩy sáng kiến Liên minh năng lượng mặt trời (ISA), Hiệp hội vành đai Ấn Độ Dương (IORA), Liên minh hạ tầng chống chịu thiên tai (CDRI), Liên minh nhiên liệu sinh học toàn cầu (GBA). EU khởi xướng sáng kiến Cổng kết nối Toàn cầu (Global Gateway). Chưa kể những sáng kiến Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thế hệ mới như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)… đã đi trước WTO trong việc xây dựng một số khuôn khổ, quy tắc mới về thương mại quốc tế.
(5) Gồm 6 chiều: việc làm; y tế, giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin.
(6) Năm 2025, Chính phủ đặt ra các chỉ tiêu: tăng trưởng GDP khoảng 6,5 - 7% và phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn (7 - 7,5%) để đến hết năm 2025 xếp hạng 31 - 33 thế giới về quy mô GDP. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.900 USD. Theo IMF, Năm 2023, GDP (PPP) - GDP theo sức mua tương đương - của Việt Nam đạt khoảng 1.438 tỷ USD, xếp thứ 25/192 trên thế giới. GDP bình quân (PPP) đầu người Việt Nam đạt khoảng 14.342USD, xếp thứ 108/192 trên thế giới. Năm 2024, IMF dự báo GDP (PPP) Việt Nam đạt khoảng 1.559 tỷ USD, xếp thứ 25/192 trên thế giới và GDP bình quân (PPP) đầu người được dự báo đạt khoảng 15.470USD, xếp thứ 107/192, dự báo vào năm 2029 đạt khoảng 2.343 tỷ USD. Nếu đạt được con số này, vào năm 2029, Việt Nam sẽ bước vào tốp 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới, nằm trong tốp gồm Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia, Đức, Nga, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Pháp, Mexico, Ý, Hàn Quốc, Ả Rập Xê Út, Tây Ban Nha, Canada, Ai Cập và Bangladesh.
(7) Đến nay, Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới 30 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 thành viên G20, toàn bộ các nước ASEAN. Việt Nam chủ động đàm phán, ký kết nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), đã ký và thực thi 16 FTA, đang đàm phán 3 FTA, là quốc gia duy nhất ký kết Hiệp định thương mại tự do với tất cả các đối tác kinh tế lớn trên toàn cầu như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Anh, Nga… Việt Nam tích cực tham gia quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, thực hiện sứ mệnh gìn giữ hòa bình (PKO) của Liên Hợp quốc, đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020 - 2021...
(8) Tính đến tháng 11-2024, Việt Nam có quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với 8 quốc gia. Đó là: Trung Quốc (2008), Liên bang Nga (2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Mỹ (9-2023), Nhật Bản (11-2023), Australia (3-2024) và Pháp (10-2024); 19 Đối tác Chiến lược (bao gồm cả 8 Đối tác Chiến lược Toàn diện, mới nhất là Brazil ngày 17-11-2024) và 13 Đối tác Toàn diện.
(9) Tính đến tháng 10-2024, Việt Nam đã ký kết, thực thi 17 FTA và đang đàm phán 2 FTA khác.
(10) Xem: Hội đồng Lý luận Trung ương: 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 345-354.
(11) Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại do các đại hội VIII, IX, X, XI đặt ra không thực hiện được, tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước trong những năm qua không ổn định và có xu hướng liên tục giảm xuống (trong các chiến lược mười năm 1990 - 2000, 2001 - 2010, 2011 - 2020 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân là 7,5%, 7% và 5,9%).
(12) Để có thể bắt kịp với các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam cần duy trì tăng trưởng cao liên tục trong một thời gian dài. Nếu Việt Nam muốn bắt kịp những nền kinh tế như Hàn Quốc, Đài Loan thì cần duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình 9%/năm liên tục trong 20 năm tới.

TS BÙI TRƯỜNG GIANG - THS NGUYỄN GIA ĐỨC

Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương - Hội đồng Lý luận Trung ương


Nguồn: Tạp chí Cộng sản
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1.241
Hôm qua : 2.838
Tháng 04 : 6.609
Năm 2025 : 177.183